ESP

Chương trình Hỗ trợ Năng lượng GIZ

Hội thảo “Lợi ích điện gió ngoài khơi”: Phát triển điện gió ngoài khơi là cần thiết để đảm bảo nguồn cung ứng điện.

Chia sẻ
In

Vào ngày 12/4, trong khuôn khổ Đại thọai Năng lượng Việt – Đức do Bộ Kinh tế và Bảo vệ Khí hậu CHLB Đức (BMWK) tài trợ, Chương trình Hỗ trợ Năng lượng GIZ (ESP) cùng với Tập đoàn Điện lực Việt Nam EVN tổ chức hội thảo Lợi ích Điện gió ngoài khơi. Hội thảo đã chia sẻ những kinh nghiệm thực tiễn về phát triển, đầu nối và vận hành các dự án Điện gió ngoài khơi (ĐGNK), đặc biệt là trong bối cảnh EVN đang nghiên cứu và đề xuất với Chính phủ để phát triển Dự án ĐGNK đầu tiên tại khu vực Vịnh Bắc Bộ với công suất dự kiến khoảng 800MW.

Hội thảo có sự tham gia của hơn 80 đại biểu là các lãnh đạo và đại diện từ Cục Điều tiết Điện lực, Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo thuộc Bộ Công Thương, EVN, các ban và đơn vị cấp dưới của EVN, và chuyên gia đến từ GIZ.

Trọng tâm của phiên làm việc là các kinh nghiệm quốc tế trong phát triển thị trường ĐGNK tại các quốc gia châu Âu, trong đó có Đức và Anh. Châu Âu đặt mục tiêu tích hợp ĐGNK vào lưới điện từ 15 GW vào thời điểm hiện tại lên tới 350 GW vào năm 2050. Cho đến nay, hoạt động sản xuất ĐGNK tại châu Âu đã đạt đến trình độ trưởng thành về công nghệ và chi phí, tuy nhiên, hệ thống truyền tải cần được quy hoạch một cách phù hợp thông qua cải tiến và phát triển công nghệ.

Bên cạnh đó, chuyên gia từ Elia Grid International (EGI) cũng đã đưa ra sự so sánh ưu nhược điểm giữa hai mô hình phát triển ĐGNK là mô hình TSO và mô hình nhà đầu tư dự án (Developer) khi xem xét các yếu tố như quy hoạch, xây dựng, vận hành, bảo trì và sở hữu hạ tầng lưới điện ngoài khơi. Từ kinh nghiệm quốc tế, việc lựa chọn phương án phát triển nào sẽ không chỉ phụ thuộc vào quy mô của từng dự án mà còn phụ thuộc vào kế hoạch phát triển toàn thể trong khu vực lân cận: quy mô càng lớn sẽ kéo theo thách thức lớn hơn cho việc tích hợp và vận hành hệ thống điện một cách hiệu quả. Việc lựa chọn phương án phát triển dự án phù hợp với bối cảnh phát triển công nghệ hiện nay cần có đánh giá từng thể về thiết kế hạ tầng hệ thống lưới điện truyền tải hiện tại. Thực tế cho thấy hầu hết các thị trường ĐGNK tại Châu Âu đã chuyển từ mô hình “nhà đầu tư dự án” sang mô hình TSO sau khi đã trải qua giai đoạn phát triển các Dự án theo hình thức nhà đầu tư và nhận thấy lợi ích của mô hình TSO so với mô hình “nhà đầu tư dự án”.

Nghiên cứu tiềm năng phát triển năng lượng gió nổi khu vực (GNK) của Việt Nam, chuyên gia quốc tế cho rằng tiềm năng của Việt Nam là chìa khóa cho sự phát triển năng lượng trong khu vực. Đặc biệt, với sự ra đời của Sáng kiến Lưới điện ASEAN (APG), các nước đã có một khung chính sách phát triển lưới điện chung dự kiến cho khu vực, tạo thuận lợi cho quá trình trao đổi thông tin và nâng cao nhận thức về các lợi ích của dự án.

Tuy nhiên, điểm hạn chế là khung chính sách của ASEAN vẫn chưa hoàn thiện. Sáng kiến APG vẫn dựa trên cơ sở thỏa thuận song phương giữa các nước thành viên, do đó thay vì đưa ra một khung tổng thể về xây dựng lưới điện khu vực, nội dung làm việc phụ thuộc vào các chủ đề mà các nước thành viên quan tâm và đề xuất.

Trong phiên làm việc buổi chiều, các đại biểu được nghe chia sẻ từ đại diện Công ty Cổ phần Tư vấn Xây dựng Điện 1 (EVNPECC1) về tiềm năng phát triển năng lượng gió nổi khu vực Vịnh Bắc Bộ, bao gồm tiềm năng gió, các khu vực loại trừ về môi trường – kinh tế xã hội, và các giải pháp đầu nối lưới điện quốc gia.

Ban quản lý đầu tư của EVN cũng chia sẻ Việt Nam đặt mục tiêu tổng công suất lắp đặt năng lượng gió nổi trên cả nước sẽ đạt 07 GW vào năm 2030 và 87 GW vào năm 2050. Việc phát triển năng lượng gió nổi là cần thiết để chắc chắn đảm bảo nguồn cung ứng điện của EVN, đặc biệt cho khu vực miền Bắc đến năm 2030. Đồng thời cũng phù hợp với chiến lược phát triển của EVN và tầm nhìn quốc gia đến năm 2045.

Tuy nhiên, quá trình triển khai vẫn gặp khó khăn khi Quy hoạch phát triển điện lực Quốc gia giai đoạn 2021 – 2030 (Quy hoạch điện VIII) và Quy hoạch không gian biển Quốc gia giai đoạn 2021 – 2030 chưa được phê duyệt. Các quy định về pháp luật cũng còn nhiều vấn đề mơ hồ khi chưa có chính sách, cơ chế giá cho các dự án năng lượng gió nổi, chưa có các quy định về trình tự, tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư đối với các dự án này, vv. Bên cạnh đó là các khó khăn về cơ sở hạ tầng, dữ liệu, kinh nghiệm, chi phí đầu tư, vv.

Trên cơ sở đó, EVN đề xuất với chính phủ sớm phê duyệt Quy hoạch điện VIII và Quy hoạch không gian biển Quốc gia, hoàn thiện quy định của pháp luật về đầu tư, xây dựng và vận hành các dự án năng lượng gió nổi, đồng thời thu hút đầu tư, nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng như cảng biển, tàu biển, phương tiện phụ trợ hiện nay để đáp ứng được các yêu cầu về phát triển.

EVN cũng mong muốn tăng cường hợp tác với GIZ để hỗ trợ các Bộ, ngành xây dựng chính sách thúc đẩy phát triển năng lượng gió nổi tại Việt Nam, đồng thời tăng cường trao đổi kinh nghiệm, hỗ trợ đào tạo nhân lực cho EVN và các đơn vị tư vấn của EVN về năng lượng gió nổi.

Phiên họp cũng chia sẻ kinh nghiệm quốc tế về đấu nối năng lượng gió nổi, đấu nối lưới hiện hành, Offshore Hub – đảo nhân tạo, việc quản lý vận hành và các vấn đề kỹ thuật của năng lượng gió nổi. Trong buổi làm việc này, Nhóm chuyên gia đảm trách về năng lượng gió nổi của Nhóm Đối tác Năng lượng Việt Nam (VEPG) cũng được giới thiệu.

Chia sẻ tại hội thảo, ông Phạm Hồng Phương – Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam cho biết: “Việc nghiên cứu, đầu tư xây dựng các dự án năng lượng gió nổi góp phần đẩy nhanh và định hình quá trình chuyển đổi năng lượng và thúc đẩy Việt Nam hiện thực hóa các mục tiêu trung hòa carbon vào năm 2050, sử dụng tài nguyên tiết kiệm, hiệu quả và cạnh tranh, đồng thời đặt mục tiêu đẩy lùi điện than vào những năm tiếp theo. Với mục tiêu đến năm 2030 đạt được 07 GW năng lượng gió nổi, Việt Nam cần phải có quá trình chuẩn bị tích cực với các chính sách phù hợp để rút ngắn thời gian thực hiện.”

Ông Markus Bissel – Đại diện GIZ triển khai Đối thoại năng lượng Việt – Đức, nhấn mạnh rằng, Chương trình Hỗ trợ Năng lượng GIZ sẽ tiếp tục triển khai các hoạt động hợp tác giữa hai quốc gia trong khuôn khổ Đối thoại năng lượng Việt-Đức, qua đó hỗ trợ chính phủ Việt Nam ở cấp quốc gia và cấp tỉnh tăng cường các quy trình thực thi chính sách cho quá trình chuyển đổi năng lượng và trung hòa carbon tại Việt Nam.

Tin tức liên quan

Tin tức

mới nhất